Hiển thị các bài đăng có nhãn 漢文. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 漢文. Hiển thị tất cả bài đăng
Chủ Nhật, 28 tháng 9, 2025
Thứ Hai, 22 tháng 9, 2025
秋夜旅懷吟 - Thu dạ lữ hoài ngâm
| Sách Khảo sát về thơ Đinh Nhật Thận qua Thu dạ lữ hoài ngâm của Nguyễn Tài Chất và Nguyễn Tài Cẩn (Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản, 2008) ghi tác giả là Đinh Nhật Thận. Bản này dựa trên bản chép tay do người cháu đích tôn của Đinh Nhật Thận tặng lại cho ông Nguyễn Tài Chất, và đã được đối chiếu với các bản của Trường Thịnh Đường (in mộc bản năm 1902) và bản Nguyễn Văn Đề công bố trong cuốn Trong 99 chóp núi (do Hà Xuân Tề đề tựa ngày 4-7-1941) tại Huế. Theo đó, Đinh Nhật Thận làm bài này trong thời gian bị triều đình bắt giữ cho rằng ông liên luỵ với khởi nghĩa của Cao Bá Quát tỏ nỗi lòng nhớ quê nhà. |
| 秋夜靜天光隱約 | Thu dạ tĩnh thiên quang ẩn ước |
| 隔疏簾淡酌金罍 | Cách sơ liêm đạm chước kim lôi |
| 天時人事相催 | Thiên thời nhân sự tương thôi |
| 浮生若夢幾回為歡 | Phù sinh nhược mộng kỷ hồi vi hoan |
| Đêm thu lặng, bóng giời thấp thoáng, Cách rèm thưa chuốc chén gượng nguôi. “Thiên thời nhân sự tương thôi”, Kiếp chiêm bao dễ mấy hồi người ta? |
| 人對景花間月照 | Nhân đối cảnh hoa gian nguyệt chiếu |
| 景撩人樹梢風吹 | Cảnh liêu nhân thụ tiêu phong xuy |
| 這般料少人知 | Giá ban liệu thiểu nhân tri |
| 閒來風月與誰為秋 | Nhàn lai phong nguyệt dữ thuỳ vi thu |
| 詩四絕怡愉雅愛 | Thi tứ tuyệt di du nhã ái |
| 酒三杯瀟洒離懷 | Tửu tam bôi tiêu sái ly hoài |
| 燈前獨對書齋 | Đăng tiền độc đối thư trai |
| 傷心客地有懷古人 | Thương tâm khách địa hữu hoài cổ nhân |
| 香水外忽聞漁韻 | Hương thuỷ ngoại hốt văn ngư vận |
| 從何來棹進江邊 | Tòng hà lai trạo tiến giang biên |
| 徘徊月夜霜天 | Bồi hồi nguyệt dạ sương thiên |
| 寒山暗認客船更非 | Hàn sơn ám nhận khách thuyền cánh phi |
| 曲江水何時大杜 | Khúc giang thuỷ hà thì Đại Đỗ |
| 一孤舟繫故園心 | Nhất cô chu hệ cố viên tâm |
| 時留八首詩吟 | Thời lưu bát thủ thi ngâm |
| 令人旅思轉深鄉情 | Linh nhân lữ tứ chuyển thâm hương tình |
| 昔我往青青柳絮 | Tích ngã vãng thanh thanh liễu nhứ |
| 兩三聲初語黃鶯 | Lưỡng tam thanh sơ ngữ hoàng oanh |
| 而今菊已含英 | Nhi kim cúc dĩ hàm anh |
| 柳陰庭外寒鳴秋蟬 | Liễu âm đình ngoại hàn minh thu thuyền |
| 昔我去翻翻桃臉 | Tích ngã khứ phiên phiên đào kiểm |
| 兩三枝初占東風 | Lưỡng tam chi sơ chiếm đông phong |
| 而今蘭已成叢 | Nhi kim lan dĩ thành tùng |
| 桃夭軒外落從寒霜 | Đào yêu hiên ngoại lạc tùng hàn sương |
| 胡為乎凄涼客舍 | Hồ vi hồ thê lương khách xá |
| 日優遊幾個冠童 | Nhật ưu du kỷ cá quan đồng |
| 安能夜夜書房 | An năng dạ dạ thư phòng |
| 芭蕉泣露昆虫鳴秋 | Ba tiêu khấp lộ côn trùng minh thu |
| 胡為乎怡愉旅館 | Hồ vi hồ di du lữ quán |
| 歲逡巡已半霜煙 | Tuế thuân tuần dĩ bán sương yên |
| 安能暮暮書軒 | An năng mộ mộ thư hiên |
| 風搖庭竹月懸屋梁 | Phong dao đình trúc nguyệt huyền ốc lương |
| 不是做何郎投筆 | Bất thị tố hà lang đầu bút |
| 將忠肝為國從軍 | Tương trung can vị quốc tòng quân |
| 此身空冒風塵 | Thử thân không mạo phong trần |
| 坐中虛視寢時徒聞 | Toạ trung hư thị tẩm thì đồ văn |
| 不是做何人捧檄 | Bất thị tố hà nhân phủng hịch |
| 將孝心離戚從官 | Tương hiếu tâm ly thích tòng quan |
| 他鄉何事盤桓 | Tha hương hà sự bàn hoàn |
| 白雲飛處牡丹開時 | Bạch vân phi xứ mẫu đơn khai thì |
| 今日自海濱遠顧 | Kim nhật tự hải tân viễn cố |
| 一輕帆直渡歸陵 | Nhất khinh phàm trực độ quy lăng |
| 鄉魂沸沸如甑 | Hương hồn phí phí như tăng |
| 逐帆忽已破層層波 | Trục phàm hốt dĩ phá tằng tằng ba |
| 明日自山家遠眺 | Minh nhật tự sơn gia viễn diểu |
| 片孤雲帶曉浮空 | Phiến cô vân đới hiểu phù không |
| 鄉心裊裊如蓬 | Hương tâm niểu niểu như bồng |
| 隨雲忽已過重重山 | Tuỳ vân hốt dĩ quá trùng trùng san |
| 何日是鄉關雁信 | Hà nhật thị hương quan nhạn tín |
| 悠悠難寫盡心情 | Du du nan tả tận tâm tình |
| 夜聞妙諦鍾聲 | Dạ văn Diệu Đế chung thanh |
| 海門鼓響御城炮催 | Hải môn cổ hưởng ngự thành pháo thôi |
| 江曲曲腸迴曲曲 | Giang khúc khúc trường hồi khúc khúc |
| 景悠悠夜復悠悠 | Cảnh du du dạ phục du du |
| 蕭條館旅亭秋 | Tiêu điều quán lữ đình thu |
| 鄰家樁楮江頭棹聲 | Lân gia thung chử giang đầu trạo thanh |
| 嗟客地吁縈心事 | Ta khách địa hu oanh tâm sự |
| 嘆閨人情緒可憐 | Thán khuê nhân tình tự khả liên |
| 更深燈滅案前 | Canh thâm đăng diệt án tiền |
| 含情掩扇空懸月明 | Hàm tình yểm phiến không huyền nguyệt minh |
| 孤枕裡三更寤寐 | Cô chẩm lý tam canh ngụ mị |
| 片幽懷誰是為憐 | Phiến u hoài thuỳ thị vi lân |
| 情頭夜半無人 | Tình đầu dạ bán vô nhân |
| 睡來報蝶醒辰鳴雞 | Thuỵ lai báo điệp tỉnh thần minh kê |
| 有時或鄉閨夕炤 | Hữu thì hoặc hương khuê tịch chiếu |
| 下堂來欲造花樓 | Hạ đường lai dục tháo hoa lâu |
| 忽驚燕葺泥巢 | Hốt kinh yến tập nê sào |
| 鸞羞炤鏡鳳愁懶梳 | Loan tu chiếu kính phụng sầu lãn sơ |
| 有時或織機夜靜 | Hữu thì hoặc chức cơ dạ tĩnh |
| 呼童來初整燈明 | Hô đồng lai sơ chỉnh đăng minh |
| 忽聞雁渡江聲 | Hốt văn nhạn độ giang thanh |
| 机慵足踏梭停手拋 | Cơ dung túc đạp thoa đình thủ phao |
| 可憐夜焚膏達旦 | Khả lân dạ phần cao đạt đán |
| 夜沉沉不見佳音 | Dạ trầm trầm bất kiến giai âm |
| 擲梭望望庭陰 | Trịch thoa vọng vọng đình âm |
| 霜寒蟋蟀咱吟聲愁 | Sương hàn tất suất thính ngâm thanh sầu |
| 望不見悠悠我獨 | Vọng bất kiến du du ngã độc |
| 顧閨門載復言還 | Cố khuê môn tải phục ngôn hoàn |
| 咱家雞唱西欄 | Thính gia kê xướng tây lan |
| 含情倚几挑殘孤燈 | Hàm tình ỷ kỷ khiêu tàn cô đăng |
| 可憐日燈庭自早 | Khả lân nhật đăng đình tự tảo |
| 日斜斜不到回書 | Nhật tà tà bất đáo hồi thư |
| 挈衣步步康衢 | Khiết y bộ bộ khang cù |
| 蟬鳴楊柳帶愁眉看 | Thuyền minh dương liễu đới sầu mi khan |
| 望不見翻翻我獨 | Vọng bất kiến phiên phiên ngã độc |
| 顧琴軒強欲為情 | Cố cầm hiên cưỡng dục vi tình |
| 忽瞻蝶戲蘭屏 | Hốt chiêm điệp hý lan bình |
| 含棲穿屩復行西園 | Hàm thê xuyên cược phục hành tây viên |
| 今必謂秋天靜好 | Kim tất vị thu thiên tĩnh hảo |
| 我良人將到歸期 | Ngã lương nhân tương đáo quy kỳ |
| 遑知世路蹺蹊 | Hoàng tri thế lộ nghiêu hề |
| 關山千里未期曷來 | Quan san thiên lý vị kỳ hạt lai |
| 今必謂我離永久 | Kim tất vị ngã ly vĩnh cửu |
| 自長安或抱衾裯 | Tự Trường An hoặc bão khâm trù |
| 風情慣似風流 | Phong tình quán tự phong lưu |
| 繁花矧又皇州帝城 | Phồn hoa thẩn hựu hoàng châu đế thành |
| 苟非有人情者也 | Cẩu phi hữu nhân tình giả dã |
| 胡而春而夏而秋 | Hồ nhi xuân nhi hạ nhi thâu (thu) |
| 由來紫閣紅樓 | Do lai tử các hồng lâu |
| 英雄不住丈夫難持 | Anh hùng bất trụ trượng phu nan trì |
| 如此者誰知之者 | Như thử giả thuỳ tri chi giả |
| 煙波中使我心愁 | Yên ba trung sử ngã tâm sầu |
| 昂藏豈少年遊 | Ngang tàng khởi thiếu niên du |
| 風流舊態江湖故家 | Phong lưu cựu thái giang hồ cố gia |
| 旅景每從哦裡痛 | Lữ cảnh mỗi tòng nga lý thống |
| 鄉魂空向夢中遊 | Hương hồn không hướng mộng trung du |
| 江山客亦知乎 | Giang sơn khách diệc tri hồ |
| 情中更切路途艱難 | Tình trung cánh thiết lộ đồ gian nan |
| 雖曰已藻蘋婦事 | Tuy viết dĩ tảo tần phụ sự |
| 內齊家上祀祖先 | Nội tề gia thượng tự tổ tiên |
| 澗毛潢水微虔 | Giản mao hoàng thuỷ vi kiền |
| 安知主饋能賢婦人 | An tri chủ quỹ năng hiền phụ nhân |
| 可知者十分家幼 | Khả tri giả thập phần gia ấu |
| 一門中共保無危 | Nhất môn trung cộng bảo vô nguy |
| 別時正在孩兒 | Biệt thì chính tại hài nhi |
| 年來想已髮垂牙生 | Niên lai tưởng dĩ phát thuỳ nha sinh |
| 可愛者其兄之子 | Khả ái giả kỳ huynh chi tử |
| 年十三十四中來 | Niên thập tam thập tứ trung lai |
| 吾兄亦曰幸哉 | Ngô huynh diệc viết hạnh tai |
| 底今未覺誰開學堂 | Để kim vị giác thuỳ khai học đường |
| 可思者同窗二契 | Khả tư giả đồng song nhị khế |
| 芝蘭香細細猶聞 | Chi lan hương tế tế do văn |
| 馬杯自挹輕塵 | Mã bôi tự ấp khinh trần |
| 渭城此後故人亦辭 | Vị Thành thử hậu cố nhân diệc từ |
| 不知後北圻起匪 | Bất tri hậu Bắc kỳ khởi phỉ |
| 二吾兄已未回辰 | Nhị ngô huynh dĩ vị hồi thần |
| 嗟哉同病相憐 | Ta tai đồng bệnh tương lân |
| 一瀟湘一向秦一方 | Nhất Tiêu tương nhất hướng Tần nhất phương |
| 將何日更相對語 | Tương hà nhật cánh tương đối ngữ |
| 敘閨情又敘客衷 | Tự khuê tình hựu tự khách trung |
| 而今秋月秋風 | Nhi kim thu nguyệt thu phong |
| 秋吟秋飲情中者誰 | Thu ngâm thu ẩm tình trung giả thuỳ |
| 對離景淚垂雙眼 | Đối ly cảnh lệ thuỳ song nhãn |
| 顧香關路限重山 | Cố hương quan lộ hạn trùng san |
| 酒殘獨倚欄杆 | Tửu tàn độc ỷ lan can |
| 覺來眼看夜還淒涼 | Giác lai nhãn khán dạ hoàn thê lương |
Đêm thu lặng, bóng giời thấp thoáng,
Cách rèm thưa chuốc chén gượng nguôi.
“Thiên thời nhân sự tương thôi”,
Kiếp chiêm bao dễ mấy hồi người ta?
Người đối cảnh, trước hoa trăng tỏ,
Cảnh trêu người, ngọn gió rung cây.
Nỗi niềm ai kẻ tỏ hay?
Cùng ai trăng gió đêm này với thu.
Thơ nhã ái bốn câu buông vận,
Rượu ly hoài ba chén làm khuây.
Trước đèn trong chốn thư trai,
Chạnh lòng đất khách, nhớ người đời xưa.
Ngoài Hương thuỷ tiếng ngư văng vẳng,
Thuyền từ đâu chèo thẳng biên giang?
Lờ mờ đêm nguyệt trời sương,
Thuyền ai tưởng khách non Hàn, lại không!
Khúc ngư thuỷ nhớ ông Đại Đỗ,
Buộc con thuyền lòng cũ bơ vơ.
Hứng thu để tám bài thơ,
Xui người đất khách ngẩn ngơ tình làng.
Xưa ta đi liễu đang thanh tế,
Chim hoàng anh mới kể ba câu.
Bằng nay cúc đã hoa thâu,
Liễu kia cũng nghĩ âu sầu vì ve.
Khi ta đi đào khoe tiếu kiểm,
Gió đông phong mới điểm ba hàng.
Bằng nay lan đã chồi sương,
Đào non nghĩ cũng võ vàng vì thu.
Làm chi vậy buồn rầu đất khách,
Ngày quán đồng mượn thích làm khuây.
Có đêm nương bóng hồi tây,
Tiếng sương khóc lá, hơi bay gọi trùng.
Làm chi vậy lạnh lùng quán lữ,
Năm, sương yên hết nửa đi rồi.
Có đêm ngồi nhẫn thư trai,
Gió lay bên trúc, nguyệt cài trên lương.
Nào có phải như chàng ném bút,
Vì vua mà đồng mác cho cam.
Luống đem thân thế cát lầm,
Thấy ngồi hổ mắt, nghe nằm thẹn tai.
Nào có phải như ai vâng hịch,
Vì thân mà xa cách cho xong.
Bỗng không cách địa binh bồng,
Trông mây lại nhớ, xem bông lại buồn.
Ngày nay đứng trông miền bể rộng,
Một cánh buồm gióng thẳng về cồn.
Lòng quê đâu đã cuồn cuồn,
Phút theo buồm vượt máy ngàn sóng khơi.
Ngày nay đứng trông nơi non thẳm,
Một làn mây sớm ngắm trên không.
Lòng quê đâu đã bồng bồng,
Phút theo mây kéo mấy trùng non xa.
Trông tin nhạn biết là đâu tá,
Tâm tình này ai tả cho nên.
Chuông chùa Diệu Đế cho rền,
Trống vang cửa bể, súng rên thành vàng.
Sông quạnh quẽ ruột càng quằn quại,
Cảnh đìu hiu dạ lại đìu hiu.
Lữ du ai chẳng tiêu điều,
Tiếng chày trong xóm tiếng chèo ngoài sông.
Than đất khách não nùng tâm sự,
Thương người quê tình tự bây giờ.
Đèn khuya cơn tỏ cơn mờ,
Gẫm tình che quạt luống chờ bóng trăng.
Năm canh những mơ màng trên gối,
Mảnh tình riêng biết nói cùng ai.
Thương thay đêm vắng không người,
Ngủ thời bướm báo, dậy thời gà kêu.
Hoặc có lúc ban chiều trong khổn,
Bước xuống thềm lại muốn lên lầu.
Phút nghe con én kêu sầu,
Lược rầu tóc chải, gương rầu mặt soi.
Hoặc có lúc đưa thoi đêm tối,
Gọi con tì vừa tới điểm đăng.
Phút nghe tiếng nhạn khơi chừng,
Máy rời chân đạp, thoi ngừng tay đưa.
Thương thay có đêm chờ nửa gối,
Đêm gần qua chẳng thấy thư về.
Gác thoi ra đứng bên hè,
Tai nghe tiếng dế rè rè khóc sương.
Trông chẳng thấy, chán chường than thở,
Đoái phòng khuê muốn trở gót giầy.
Gà ai eo óc hồi tây,
Gẫm tình tựa gối liền tay khêu đèn.
Thương thay có ngày nhìn sáu khắc,
Ngày gần tàn chẳng thấy thư sang.
Xuống thềm ra đứng bên đàng,
Mày sầu lá liễu hàng hàng khóc ve.
Trông chẳng thấy lại về đứng đợi,
Đoài cầm hiên tay gợi ngón đàn.
Bướm đâu trêu cợt bình lơn,
Buồn tình mang dép ra vườn hái hoa.
Rày hẳn bảo giời đà mát mẻ,
Lương nhân ta có dễ gần về.
Biết đâu đường thế nhiêu khê,
Dặm ngàn hồ dễ đi về cho năng.
Rày hẳn nói mình chừng lâu ở,
Ôm khâm trù hay đã có người.
Phong lưu vốn đã quen rồi,
Phồn hoa lịch sự lại mùi Tràng An.
Nếu chẳng thể bàn hoàn chi mãi,
Hết xuân rồi hạ lại sang thu.
Lầu hồng cung cấm ấy ru,
Anh hùng lại với trượng phu ai từ?
Như thế ấy bây giờ ai biết,
Trông yên ba khôn xiết dạ sâu.
Há còn trai trẻ chi đâu,
Phong lưu thói cũ giang hồ lối xưa.
Cảnh du lữ câu thơ thổn thức,
Bóng hương quan trước mắt mơ màng.
Non sông khách có biết chăng,
Vẫn tình thì nhớ nhưng đường thì khơi.
Tuy rằng nói đã người tần tảo,
Trên tôn đường trọng đạo tề gia.
Rau khe nước suối cũng là,
Mình xa chẳng biết ở nhà làm sao.
Duy cho trẻ đứa nào đứa ấy,
Trong gia đình đều thấy yên vui.
Lúc đi trẻ mới hay cười,
Tóc răng nay đã ra người lớn khôn.
Và thằng cháu giời thương cũng khá,
Tuổi năm nay chừng đã trưởng thành.
Phúc nhà mừng trộm cho anh,
Năm nay biết đã học hành cùng ai.
Bạn đèn sách một hai tri thức,
Mùi lan chi sực nức một nhà.
Từ phen chuốc chén quan hà,
Vị Thành lúc ấy rồi mà Dương Quan.
Sau chẳng biết ngoài miền bắc động,
Hai anh ta có chóng hồi hương?
Thương ôi đồng bệnh cùng thương,
Một Tần lại một Tiêu Tương một giời.
Đến bao giờ cùng ngồi kể chuyện,
Kể hương tình cho đến khách trung.
Mà nay nào nguyệt nào phong,
Nào thi nào tửu biết cùng ai hay.
Sầu ly biệt tuôn đầy hai mắt,
Bóng hương quan xa khuất dặm ngàn.
Rượu rồi ngồi dựa lan can,
Chiêm bao tỉnh giấc đêm tàn về thu.
Thu dạ hoài ngâm
| 秋夜懷吟 | Thu dạ hoài ngâm |
| 天氣入中秋之夜, | Thiên khí nhập trung thu chi dạ, |
| 蕭條經四坐霜寒。 | Tiêu điều kinh tứ toạ sương hàn. |
| 仙家別占清閒, | Tiên gia biệt chiếm thanh nhàn, |
| 打殘棋陣飲殘菊杯。 | Đả tàn kỳ trận ẩm tàn cúc bôi. |
| 九天外樓臺歌管, | Cửu thiên ngoại lâu đài ca quản, |
| 碧溪連滿澗桃花。 | Bích khê liên mãn giản đào hoa. |
| 芳樽一感歲華, | Phương tôn nhất cảm tuế hoa, |
| 悠然不覺是何乾坤。 | Du nhiên bất giác thị hà càn khôn. |
| 號杜宇千村寂寞, | Hào đỗ vũ thiên thôn tịch mịch, |
| 唧蟲聲四壁淒涼。 | Tức trùng thanh tứ bích thê lương. |
| 可憐自古戰場, | Khả liên tự cổ chiến trường, |
| 苔封金鏃烏禳孤魂。 | Đài phong kim thốc ô nhương cô hồn. |
| 群雄逐橫奔之鹿, | Quần hùng trục hoành bôn chi lộc, |
| 四海瞻止屋之烏。 | Tứ hải chiêm chỉ ốc chi ô. |
| 天心未厭胡雛, | Thiên tâm vị yếm hồ sồ, |
| 水深火熱來蘇者誰? | Thuỷ thâm hoả nhiệt lai tô giả thuỳ? |
| 葵藿有心而向日, | Quỳ hoắc hữu tâm nhi hướng nhật, |
| 殘鶯何物卻知秋。 | Tàn oanh hà vật khước tri thu. |
| 西天堂陛交孚, | Tây thiên đường bệ giao phu, |
| 花裘競色羶狐同章。 | Hoa cừu cạnh sắc chiên hồ đồng chương. |
| 千尋柏經霜不變, | Thiên tầm bách kinh sương bất biến, |
| 雙南金百練彌剛。 | Song nam kim bách luyện di cương. |
| 苟能鐵石肝腸, | Cẩu năng thiết thạch can trường, |
| 留名竹簡留芳豹皮。 | Lưu danh trúc giản lưu phương báo bì. |
| 依是日義旗唱率, | Y thị nhật nghĩa kỳ xướng suất, |
| 將忠心取日虞淵。 | Tương trung tâm thủ nhật ngu uyên. |
| 洗清舊國山川, | Tẩy thanh cựu quốc sơn xuyên, |
| 阿童氣概一天高橫。 | A đồng khí khái nhất thiên cao hoành. |
| 蓋忠義天青日白, | Cái trung nghĩa thiên thanh nhật bạch, |
| 而榮華雲白狗蒼。 | Nhi vinh hoa vân bạch cẩu thương. |
| 立身所貴綱常, | Lập thân sở quý cương thường, |
| 休將一夢黃粱壯懷。 | Hưu tương nhất mộng hoàng lương tráng hoài. |
| 人世罕逢開口笑, | Nhân thế hãn phùng khai khẩu tiếu, |
| 癡兒亦未了公家。 | Si nhi diệc vị liễu công gia. |
| 可憐六代豪華, | Khả liên lục đại hào hoa, |
| 遊麋梁館啼鴉宋臺。 | Du mi Lương quán đề nha Tống đài. |
| 人世不知皆矯我, | Nhân thế bất tri giai kiểu ngã, |
| 容才無主可憐君。 | Dung tài vô chủ khả liên quân. |
| 徘徊人事天辰, | Bồi hồi nhân sự thiên thần, |
| 花經眼酒入唇那堪。 | Hoa kinh nhãn tửu nhập thần na kham. |
| 欲問禪曇而奉佛, | Dục vấn thiền đàm nhi phụng Phật, |
| 禪曇非石室蘭臺。 | Thiền đàm phi thạch thất lan đài. |
| 金連坐下如來, | Kim liên toạ hạ Như Lai, |
| 難將巨燭大開昏衢。 | Nan tương cự chúc đại khai hôn cù. |
| 欲問蓬壺諸仙子, | Dục vấn Bồng hồ chư tiên tử, |
| 蓬壺空流水桃花。 | Bồng hồ không lưu thuỷ đào hoa. |
| 商山寂寞芝歌, | Thương sơn tịch mịch chi ca, |
| 武陵往跡煙霞深深。 | Vũ Lăng vãng tích yên hà thâm thâm. |
| 黯黯月而沉沉夜, | Ảm ảm nguyệt nhi trầm trầm dạ, |
| 指秋江欲下孤舟。 | Chỉ thu giang dục hạ cô châu. |
| 江楓漁火對愁, | Giang phong ngư hoả đối sầu, |
| 風搖桂棹月浮金樽。 | Phong dao quế trạo nguyệt phù kim tôn. |
| 人勸我侯門一見, | Nhân khuyến ngã hầu môn nhất kiến, |
| 即青年可便封侯。 | Tức thanh niên khả tiện phong hầu. |
| 我知其曲如鉤, | Ngã tri kỳ khúc như câu, |
| 鞍車駟馬我求何為? | An xa tứ mã ngã cầu hà vi? |
| 人勸我高飛遠走, | Nhân khuyến ngã cao phi viễn tẩu, |
| 恐西塵欲垢人焉。 | Khủng tây trần dục cấu nhân yên. |
| 我知我直如弦, | Ngã tri ngã trực như huyền, |
| 為輪為磾隨天賦形。 | Vi luân vi đạn tuỳ thiên phú hình. |
| 我必謂人生自古, | Ngã tất vị nhân sinh tự cổ, |
| 未逢時何苦勞心。 | Vị phùng thời hà khổ lao tâm. |
| 盤溪一尺追尋, | Bàn khê nhất xích truy tầm, |
| 可能垂釣夢吟羆熊。 | Khả năng thuỳ điếu mộng ngâm bi hùng. |
| 我必謂英雄無盡, | Ngã tất vị anh hùng vô tận, |
| 待明君方引級升。 | Đãi minh quân phương dẫn cấp thăng. |
| 莘原抱道幾曾, | Sằn nguyên bão đạo kỷ tằng, |
| 聘車三至可能鼎調。 | Sính xa tam chí khả năng đỉnh điều. |
| 斯也未逢堯舜禪, | Tư dã vị phùng Nghiêu Thuấn thiện, |
| 不如高臥且加餐。 | Bất như cao ngoạ thả gia xan. |
| 洞知故國江山, | Đỗng tri cố quốc giang san, |
| 人民城郭朝班屬胡。 | Nhân dân thành quách triều ban thuộc Hồ. |
| 識時務在乎俊傑, | Thức thời vụ tại hồ tuấn kiệt, |
| 星競光而月未明。 | Tinh cạnh quang nhi nguyệt vị minh. |
| 風塵何日掃清, | Phong trần hà nhật tảo thanh, |
| 龍驤首起穀城羽飛。 | Long tương thủ khởi Cốc thành vũ phi. |
| 因感興吟詩絕夜, | Nhân cảm hứng ngâm thi tuyệt dạ, |
| 一篇中字可珠璣。 | Nhất thiên trung tự khả châu ky. |
| 世人認作蓍龜, | Thế nhân nhận tác thi quy, |
| 避凶趨吉兩岐分明。 | Tị hung xu cát lưỡng kỳ phân minh. |
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)